Điều gì sẽ thay đổi?
Quota bị loại bỏ từ năm 2005 sẽ mở đường cho các nước đang phát triển có nhiều lợi thế cạnh tranh tập trung phát triển ngành dệt để có thể chủ động được trong tất cả các giai đoạn trong quá trình sản xuất, từ khâu trồng bông tự nhiên cho đến khâu sản xuất các sản phẩm thành phẩm. Ngành dệt đang có những định hướng mới trong việc áp dụng những sản phẩm vải, nhưng không phải là quần áo, được gọi là vải kỹ thuật. Đây là lĩnh vực có mức độ tăng trưởng nhanh nhất. Dự kiến các sản phẩm vải kỹ thuật sẽ có mức tăng trưởng gấp đôi so với các sản phẩm dùng để may quần áo và chiếm khoảng hơn 50% toàn bộ sản phẩm dệt. Quá trình sản xuất các sản phẩm vải kỹ thuật đòi hỏi máy móc hiện đại đắt tiền và công nhân có trình độ cao. Hiện tại lĩnh vực này tập trung ở những nước phát triển. Mạng lưới bán lẻ ngày càng bị chi phối bởi những tổ chức bán lẻ ở những nước tiêu thụ hàng hóa lớn, nơi xu hướng thiên về sự chuyên biệt cao của sản phẩm, những sản phẩm có thương hiệu lớn và những phân đoạn thị trường. Những tập đoàn bán lẻ lớn thu thập thông tin thị trường về thị hiếu khách hàng, xu thế mẫu mốt mới nhất và việc tập hợp những thông tin này đã tạo cho họ những lợi thế trong việc giao dịch với những nhà cung ứng của họ. Sự bãi bỏ hạn ngạch sẽ làm cho các thoả thuận thương mại khác tự do thương mại khu vực hay hệ thống ưu đãi thuế quan đặc biệt... trở nên hấp dẫn hơn. Tuy nhiên hạn ngạch không phải là cách thức hạn chế thương mại duy nhất. Các nước vẫn có thể áp dụng thuế quan nhập khẩu và thuế quan áp dụng với hàng dệt may thường tương đối cao.
Hàng rào thuế quan bảo hộ áp dụng đối với hàng dệt may NK là tương đối cao so với các sản phẩm NK khác. Ở cácnước phát triển, thuế quan tính bình quân áp dụng cho các sản phẩm may mặc là 16,1%, trong khi đó thuế áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp khác là 6,2% và 13,5% cho các sản phẩm công nghiệp khác.
Nâng cao sức cạnh tranh
Theo đánh giá của nhiều nhà phân tích thì sau khi bãi bỏ quota, các nước ở khu vực Châu Á sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các đối thủ khác ở khu vực Nam Mỹ. Người tiêu dùng trên thế giới sẽ được hưởng lợi từ việc giá của các sản phẩm dệt may ước tính giảm bình quân khoảng 15 - 20%. Trung Quốc hiện tại chiếm 13% thị phần ở thị trường Mỹ sẽ nổi lên như một quốc gia XK hàng dệt may lớn nhất thế giới.
Ngành dệt may VN với hơn 1.000 DN sử dụng gần 2 triệu lao động đang đứng trước những thử thách và vận hội lớn. Chỉ cần điểm danh và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức chúng ta dễ dàng nhận thấy các DN dệt may VN đang phải đối đầu với những khó khăn lớn như nguồn cung ứng nguyên vật liệu trong nước chưa phát triển, tình trạng công nghệ còn lạc hậu, còn phụ thuộc quá nhiều vào những thị trường gia công XK như Mỹ, Châu Âu, chưa có những thương hiệu lớn hay các yếu tố sản xuất đầu vào như điện, nước, giá thông tin liên lạc còn cao với các nước trong khu vực... Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các DN dệt may VN nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế thông qua các chính sách và chương trình cụ thể sau: Tích cực đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và đàm phám các thỏa thuận thương mại tự do với các đối tác chính như Châu Âu, Mỹ, Nhật... để các sản phẩm dệt may của ta được hưởng ưu đãi khi thâm nhập thị trường. Khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh bền vững: gắn lợi nhuận doanh nghiệp với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (an toàn vệ sinh lao động, điều kiện làm việc...) và bảo vệ môi trường. Tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn với sự ổn định cho các DN dệt may VN. Không ngừng cải thiện làm hấp dẫn thêm cơ sở hạ tầng, đơn giản hóa các thủ tục hải quan. Đào tạo lao động ngành may...
DN phải chủ động
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, các DN dệt may VN sẽ là những nhân tố chính quyết định sự thành bại của mình. Việc này bao gồm các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh của sản phẩm hay chiến lược thị trường... Căn cứ vào nguồn lực và khả năng của mỗi DN, việc xác định đúng đắn những yếu tố quyết định thành công trong môi trường kinh doanh mới đóng vai trò sống còn. Các DN chúng ta nên cạnh tranh như thế nào? Cạnh tranh bằng giá, bằng sự khác biệt của sản phẩm trong các phân đoạn thị trường, bằng sự tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, trách nhiệm xã hội DN... hay bằng cách kết hợp tất cả các yếu tố trên? Nhân tố quyết định thành công có thể nằm ở kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất, giá thành sản phẩm, khả năng thiết kế, phát triển sản phẩm hay khả năng đáp ứng nhanh những yêu cầu khó tính của khách hàng... Hơn nữa, những nhân tố này luôn thay đổi theo thị trường, thị hiếu người tiêu dùng do vậy đòi hỏi DN cũng phải luôn không ngừng đổi mới, trang bị những khả năng mới và trước hết là khả năng thích ứng cao trước những biến động của thị trường.